Manredcafe

Football_Game_Music_IT
 
IndexIndex  PortalPortal  CalendarCalendar  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Manchester United _ Bạn là ai không quan trọng, cách bạn nhìn nhận thất bại sẽ quyết định xem bạn còn cách thành công bao xa. Rất nhiều lần tôi đã nản chí, muốn bỏ cuộc nhưng tôi luôn cố gắng và tôi hiểu rằng: "Thành Công luôn đến gần với những con người có chí". Tôi không muốn đề cao bản thân cũng không bảo các bạn phải noi gương tôi nhưng các bạn cũng hãy ghi nhớ một điều "Con đường vươn tới thành công thực sự trắc trở như leo lên đỉnh Everest và chính vì vậy, nó không dành cho những kẻ tầm thường". Chúng ta là những con người bình thường, nhưng chúng ta khác những con người tầm thường ở chỗ chúng ta mong muốn trở thành những người vĩ đại, và chỉ cần chúng ta kiên trì hành động để hiện thực hoá ước mơ thì một ngày nào đó tất cả chúng ta đều sẽ thành công !

Share | 
 

 Kaká Ricardo Izecson dos Santos Leite

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
Admin
Administrator


Virgo Horse
Tổng số bài gửi : 326
Points : 613
Reputation : 2
Join date : 25/04/2010
Age : 26
Đến từ : DH SPKT TPHCM

Bài gửiTiêu đề: Kaká Ricardo Izecson dos Santos Leite   Thu Apr 29, 2010 11:08 pm





Tên đầy đủ Ricardo Izecson dos Santos Leite
Ngày sinh 22 tháng 4, 1982 (28 tuổi)
Nơi sinh Brasília, Brazil
Chiều cao 1,86 m (6 ft 1 in)
Vị trí Tiền vệ công, Tiền đạo lùi
Thông tin về CLB
CLB hiện nay Real Madrid
Số áo 8
CLB chuyên nghiệp1
Năm CLB Số trận
(bàn thắng)*
2001-2003
2003-2009
2009- São Paulo FC
A.C. Milan
Real Madrid 059 (23)
193 (70)
19 (6)
Đội tuyển quốc gia2
2002- Brasil 063 (23)

1 Chỉ tính số trận và số bàn thắng
được ghi ở giải Vô địch quốc gia và
cập nhật ngày 09:20, ngày 9 tháng 6 năm 2009 (UTC).
2 Thống kê về thành tích tại ĐTQG
được cập nhật ngày 09:23, ngày 9 tháng 6 năm 2009 (UTC).
* Số trận khoác áo (Số bàn thắng)
Ricardo Izecson dos Santos Leite (IPA: [hiˈkaɾdʊ iˈzɛksõⁿ dʊs‿ˈsɐ̃ⁿtʊs ˈleɪ̯t͡ʃɪ]; sinh ngày 22 tháng 4, 1982 tại Brasília), được biết đến nhiều nhất với tên Kaká, là một cầu thủ bóng đá người Brasil. Hiện anh đang chơi cho câu lạc bộ Tây Ban Nha Real Madrid và tuyển Brasil ở vị trí tiền vệ kiến thiết. Anh từng được trao danh hiệu Quả bóng vàng châu Âu và Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFA vào năm 2007. Năm 2008, anh được tạp chí Time ghi tên vào danh sách 100 nhân vật có ảnh hưởng nhất thế giới.

Vào tháng 2 năm 2009, Kaká và tiền đạo câu lạc bộ Inter Milan Zlatan Ibrahimović là những cầu thủ bóng đá được trả lương cao nhất trên thế giới.


* 1 Thiếu niên
* 2 Sự nghiệp cấp câu lạc bộ
o 2.1 São Paolo
o 2.2 AC Milan
o 2.3 Real Madrid
* 3 Đội tuyển quốc gia
* 4 Đời sống cá nhân
* 5 Tên thân mật
* 6 Thống kê sự nghiệp
o 6.1 Câu lạc bộ
o 6.2 Bàn thắng
* 7 Thành tích
o 7.1 Tại câu lạc bộ và đội tuyển quốc gia
o 7.2 Danh hiệu cá nhân
o 7.3 Á quân
* 8 Chú thích
* 9 Liên kết ngoài
Thiếu niên

Kaká là con trai của bà Simone Cristina dos Santos Leite, làm nghề giáo viên và ông Bosco Izecson Pereira Leite, một kỹ sư. Anh còn có một đứa em trai, Rodrigo (thường gọi Digão), đang chơi cho đội hình của Milan. Khi Kaka 7 tuổi, gia đình anh chuyển đến São Paulo. Trường học đã chọn anh vào đội tuyển có tên là "Alphaville Tennis Club," mà sau đó đội bóng đã vô địch một giải trong khu vực, Kaka là cầu thủ xuất sắc nhất giải này. Những thành công ban đầu đã khiến anh được São Paulo FC để mắt tới, sau đó họ gọi anh vào đội hình trẻ của câu lạc bộ.

Năm 12 tuổi, Kaka cùng đội trẻ của Sao Paulo tham dự giải đấu Reebok Cup tại Mỹ và anh đoạt giải cầu thủ xuất sắc nhất. Tuy vậy, anh vẫn tiếp tục học ở Batista đến 14 tuổi, lúc đó anh là một tình nguyện viên trong nhà thờ Cambuci.

Năm 18 tuổi, một tai nạn trong khi đi bơi suýt chút nữa đã khiến Kaká phải giã từ môn bóng đá khi anh bị chấn thương cột sống có thể bị bại liệt. Nhưng sau đó anh đã bình phục hoàn toàn một cách khó tin. Anh cho rằng đó là nhờ ơn Chúa Trời, điều này cũng lý giải vì sao anh có một đức tin nhiệt thành đối với Chúa. Kaká cũng dâng một phần mười lợi tức của mình cho nhà thờ theo lời dạy của Kinh Thánh.
Sự nghiệp cấp câu lạc bộ
São Paolo

Kaká bắt đầu sự nghiệp cấp câu lạc bộ với São Paulo vào năm 9 tuổi. Anh ký tiếp một hợp đồng vào năm 15 tuổi và giúp tuyển trẻ này đoạt Copa de Juvenil.

Kaká khởi đầu sự nghiệp trưởng thành vào tháng 1 năm 2001 và ghi 12 bàn trong 27 lần xuất trận, góp phần giúp São Paulo giành chức vô địch Torneio Rio-São Paulo đầu tiên và duy nhất cho đến nay. Anh ghi 10 bàn trong 22 trận ở mùa sau đó, và khả năng của anh nhanh chóng thu hút sự chú ý từ các câu lạc bộ Châu Âu. Tổng cộng Kaká đã chơi 146 trận cho São Paulo và ghi 58 bàn.
AC Milan


AC Milan, vừa giành chức vô địch Champions League năm 2003, đã mua anh với giá $8.5 triệu, một mức phí được chủ tịch câu lạc bộ Silvio Berlusconi coi là "nhỏ".[8] Anh hoà nhập rất nhanh với câu lạc bộ mới và thi đấu cho Milan trong 6 mùa giải. Trận đầu của Kaká tại Serie A là chiến thắng 2-0 của Milan trước A.C. Ancona. Anh đã ghi 10 bàn trong 30 trận thi đấu trong mùa giải đó, và Milan giành Scudetto cùng Siêu cúp Châu Âu. Kaká được chọn là một trong năm tiền vệ tiêu biểu trong mùa bóng 2004–05, thường chơi trong vai trò hộ công phía sau tiền đạo Andriy Shevchenko. Mùa giải 2004-2005 anh đã ghi 7 bàn trong 36 trận ở giải quốc nội cho Milan và đội bóng này đã về đích ở vị trí thứ hai sau Juventus. Dù Milan thua trong trận chung kết 2004–05 Champions League trước Liverpool F.C. ở loạt penalty, anh vẫn được chọn là tiền vệ xuất sắc nhất giải đấu, và đứng thứ 9 trong danh sách bầu chọn, với 19 phiếu, cho giải Quả bóng Vàng năm 2005.

Trong mùa giải 2005–06 Kaká lần đầu tiên lập hat-trick trong cả giải quốc nội và Châu Âu. Ngày 9 tháng 4 năm 2006, anh lập hat-trick vào lưới Chievo Verona. Cả ba bàn thắng đều diễn ra trong hiệp hai. Bảy tháng sau, anh lần đầu lập hat-trick ở Champions League trong chiến thắng 4–1 trước RSC Anderlecht. Làng bóng đá bắt đầu cho rằng anh sẽ trở thành một siêu sao. Sau khi Rui Costa chuyển sang Benfica ở cuối mùa giải, và dù nhiều fan hâm mộ Milan yêu cầu, Kaká vẫn không đổi số áo 22 đang mặc lấy áo số 10 của Rui Costa để lại, một số áo thường gắn liền với các tên tuổi hàng thế giới. (Cuối cùng số áo này được trao cho người đồng đội Clarence Seedorf.)
Kaká trong màu áo Milan.

Sau khi Shevchenko chuyển sang Chelsea FC ở đầu mùa giải 2006–07, Kaká đã trở thành nhân tố quan trọng bậc nhất trên hàng công của Milan và anh thường thi đấu ở cả vị trí tiền vệ và tiền đạo. Anh trở thành chân sút ghi nhiều bàn nhất tại Champions League 2006–07 với mười bàn thắng, đóng góp quan trọng vào thắng lợi của Milan trên mặt trận Châu Âu. Một trong số các bàn thắng của anh đã giúp Rossoneri đánh bại Celtic FC 1–0 trong hiệp phụ để Milan giành chiến thắng chung cuộc 1-0 sau hai lượt trận và ba bàn rất quan trọng khác trong chiến thắng chung cuộc 5-3 của Milan trước Manchester United trong hai trận bán kết dù Milan đã thua ở trận lượt đi. Sau trận thua 0-3 trên sân San Siro ngày 2 tháng 5 của nhà vô địch nước Anh, huấn luyện viên Manchester United Ngài Alex Ferguson đã tuyên bố rằng Kaká là một trong hai cầu thủ xuất sắc nhất thế gới, cùng với học trò của ông là Cristiano Ronaldo. Tuy nhiên tuyên bố này được cho là mang tính động viên đối với Cristiano Ronaldo bởi vào thời điểm đó khả năng cũng như phong độ của cầu thủ này chưa thể so sánh với Kaká. Tháng trước đó, một nhóm chuyên gia do tờ Gazzetta dello Sport của Italia lập ra đã tuyên bố rằng Kaká là cầu thủ hay nhất thế giới. Shevchenko cũng góp lời ca ngợi và cho rằng Kaká xứng đáng giành Quả bóng Vàng.

Lần đầu tiên Kaká giành chức vô địch Champions League khi Milan đánh bại Liverpool F.C. 2–1 tại Athens ngày 23 tháng 5 năm 2007. Dù không ghi bàn thắng, anh đã giúp đội bóng có được một quả đá phạt dẫn tới bàn thắng đầu tiên của Filippo Inzaghi, và cũng góp công rất lớn ở bàn thắng thứ hai khi anh chuyền bóng thuận lợi để Pippo ghi bàn. Với màn trình diễn siêu hạng trong suốt mùa giải, anh đã được bầu là Cầu thủ được yêu mến nhất trong mùa giải với trong cuộc lấy ý kiến hơn 100.000 người truy cập trang UEFA.com được Vodafone tài trợ. Tháng 6 năm 2007, tờ Kicker của Đức gọi anh là cầu thủ hay nhất thế giới, Cristiano Ronaldo và Ronaldinho về ở vị trí thứ hai và thứ ba, cùng lúc anh cũng được tờ The Times của Anh vinh danh. Ngày 30 tháng 8 năm 2007, Kaká được UEFA chọn đứng đầu danh sách cầu thủ tham gia Champions League 2006-07 và cả danh hiệu Cầu thủ của năm.

Anh đã chơi trận thứ 200 trong màu áo Milan ở trận hoà 1-1 với Calcio Catania ngày 30 tháng 9 năm 2007, và vào ngày 5 tháng 10, anh được bầu làm Cầu thủ hay nhất thế giới của FIFPro mùa giải 2006-07.

Ngày 2 tháng 12 năm 2007, Kaká chính thức trở thành Cầu thủ xuất sắc nhất Châu Âu, trở thành cầu thủ thứ tám của Milan giành danh hiệu này. Anh giành thắng lợi lớn với 444 phiếu, bỏ xa người thứ hai là Cristiano Ronaldo. Khi nhận danh hiệu tại Paris, anh đã phát biểu, "Đây là một năm tuyệt vời và danh hiệu Quả bóng Vàng đánh dấu một mùa giải 2007 đáng nhớ...Tôi muốn cảm ơn Chúa người đã đưa tôi tới đây ngày hôm nay. Và tôi cảm ơn vợ tôi, cha mẹ và Milan, đội bóng đã giúp tôi giành chiến thắng. Tôi cũng cảm ơn các đồng đội, cả ở Milan và đội tuyển Brasik, và tất cả những người hâm mộ." Ngày 29 tháng 2 năm 2008, Kaká đồng ý kéo dài hợp đồng với Milan theo đó anh sẽ ở lại câu lạc bộ Italia này cho tới tận năm 2013.

Vì những đóng góp của anh cả trong và ngoài sân cỏ, tờ Time đã đưa Kaká vào Time 100, danh sách 100 nhân vật có nhiều ảnh hưởng nhất trên thế giới ngày 2 tháng 5 năm 2008.

Vào ngày 6 tháng 3 năm 2009, tờ Football Italia nói rằng chủ tịch mới được bầu của Real Madrid Florentino Pérez đã ra giá Kaká cho Milan với giá 68,5 triệu bảng Anh, hai ngày sau khi cầu thủ này rời khỏi câu lạc bộ để về đá cho đội tuyển quốc gia. Phó chủ tịch Milan Adriano Galliani không phủ nhận thông tin này, và xác nhận rằng cha của Kaká đã đến Tây Ban Nha để gặp Pérez. Vào ngày 4 tháng 6, Galliani nói với Gazzetta dello Sport rằng tiền bạc chính là lý do chính để ông ngồi lại nói chuyện với Pérez.
Real Madrid

Ngày 8 tháng 6, Kaká đã ký hợp đồng có thời hạn 6 năm với Real Madrid với giá chuyển nhượng không được tiết lộ nhưng được tin là khoảng 56 triệu bảng Anh[19] hoặc 68 triệu euro, đưa anh trở thành cầu thủ đầu tiên được Pérez mua về kể từ ông này được tái đắc cử làm chủ tịch đội bóng. Số tiền chuyển nhượng cũng tạo ra một kỷ lục về giá chuyển nhượng trên thế giới, phá kỷ lục cũ của Zinedine Zidane khi chuyển từ Juventus đến Madrid năm 2001. Kaka thừa nhận động lực để chuyển đội bóng là giúp AC Milan vượt qua khó khăn tài chính, và Real Madrid là câu lạc bộ duy nhất mà anh có thể chuyển qua. Anh cũng nói rằng anh đã được David Beckham, một cựu cầu thủ Real Madrid, khuyên nhủ trước khi quyết định chuyển nhượng.Hiện tại phong độ của anh đang xa sút và bị đánh giá rất thấp ở Real Madrid nhưng hi vọng một ngày nào đó anh sẽ trở lại đẳng cấp như xưa
Đội tuyển quốc gia


Kaká khởi đầu sự nghiệp quốc tế tại tuyển Brasil vào tháng 2 năm 2002 trong trận đấu với Bolivia. Anh là một thành viên của tuyển Brasil vô địch World Cup 2002, nhưng chỉ chơi được 25 phút cả giải, trong trận đấu không mang ý nghĩa quan trọng với Costa Rica.

Vào năm 2003, Kaká là đội trưởng của tuyển tham dự Gold Cup, nơi Brazil kết thúc giải ở vị trí thứ 2, và Kaká là cầu thủ xuất sắc thứ 2 của giải với 3 bàn thắng. Sau đó anh thường xuyên có mặt trong đội hình chính. Vào 29 tháng 6 năm 2005, anh ghi 1 bàn trong trận mà đội tuyển vàng xanh đả bại Argentina 4-1 tại chung kết Confederations Cup 2005. Bàn thắng được ghi từ 1 cú sút mạnh vào góc cao bên tay phải khung thành. Năm đó, anh về vị trí thứ 10 trong cuộc bầu chọn cầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFA.

Kaká là 1 trong những niềm hy vọng của Brasil tại World Cup 2006. Anh đã ghi bàn thắng đầu tiên cho mình tại World Cup và bàn thắng đầu tiên cho Brasil tại giải này, trong trận thắng Croatia 1-0. Anh được chọn làm "cầu thủ của trận đấu". Anh không giữ phong độ cao trong những trận đấu tiếp theo của mùa giải, và Brasil cũng dừng lại ở tứ kết với trận thua Pháp. Vào ngày 3 tháng 12 năm 2006, anh ghi 1 bàn ấn tượng cho tuyển quốc gia, sau khi có bóng từ pha phạt góc hỏng của tuyển Argentina, anh dốc bóng tốc độ sang phần sân đội bạn và sút vào lưới.

Ngày 12 tháng 5, 2007, sau 1 thời gian tập trung sức lực cho Serie A và Champions League, Kaká đã xin phép không tham dự Copa América: "...đã 3 mùa giải liên tiếp, tôi không được nghỉ ngơi chút nào... Tôi chính thức kiến nghị CBF để tôi ngoài danh sách tuyển thủ dự Copa America sắp tới. Huấn luyện viên Brasil, ông Dunga không hài lòng, ông tôn trọng ý định đó và cho anh như nguyện, song nhấn mạnh là nếu cứ như thế anh sẽ mất chỗ trong tuyển quốc gia. Kaka sau đó vẫn được đá 70 phút trong trận giao hữu với Anh, mà Brasil đã hòa với tỉ số 1–1 (ngày 1 tháng 6). Anh chỉ được chơi 30 phút trong trận hòa không bàn thắng với Thổ vào ngày 5 tháng 6.
Đời sống cá nhân

Là một tín hữu Cơ Đốc nhiệt thành theo trào lưu Tin Lành, Kaká đã chấp nhận niềm tin tôn giáo từ năm 12 tuổi: "Tôi đã học biết rằng chính đức tin quyết định liệu một điều sẽ xảy ra hay không." Anh thường lật áo đấu để lộ chiếc áo trong có dòng chữ "I Belong to Jesus" (Tôi thuộc về Chúa Giê-xu) khi ghi bàn, và đã quỳ xuống cầu nguyện ngay trên sân sau trận chung kết thắng lợi của Milan tại Champions League mùa giải 2007. Kaká trước đó cũng đã để lộ chiếc áo này trong lễ mừng Scudetto mùa giải 2004 của Milan và sau khi đội tuyển Brazil đánh bại Đức trong trận chung kết World Cup 2002, cũng dòng chữ đó cùng với câu "God Is Faithful" (Chúa là Đấng Thành tín) trên vành giày của anh. Trong lễ mừng sau trận thắng 4-1 của Brasil trước Argentina tại trận chung kết Cúp các Liên đoàn của FIFA 2005, anh và nhiều đồng đội, có cả thủ môn Gomes và hậu vệ Lúcio, đã mặc những chiếc áo phông có dòng chữ "Jesus Loves You" (Chúa Giê-xu Yêu Bạn) bằng nhiều ngôn ngữ.

Kaká là thành viên của tổ chức Atletas de Cristo ("Các Vận động viên của Chúa Giê-xu"). Anh thường ăn mừng bàn thắng bằng cách chỉ lên bầu trời như một dấu hiệu gửi lời tạ ơn tới Chúa. Âm nhạc Kaká yêu thích là nhạc Phúc âm, quyển sách gối đầu giường của anh là Kinh Thánh. Từ tháng 11 năm 2004, anh phục vụ trong cương vị Đại sứ Chống nạn Đói cho Chương trình Lương thực Thế giới của Liên Hiệp Quốc, người trẻ nhất ở vị trí danh dự này cho tới thời điểm anh được chỉ định.
Kaká và vợ, Caroline Celico

Anh kết hôn với cô bạn gái từ thủa nhỏ, Caroline Celico. Hôn lễ cử hành ngày 23 tháng 12 năm 2005 tại Nhà thờ Tin Lành Reborn in Christ ở São Paulo, Brazil. Con đầu lòng của họ, Luca Celico Leite, ra đời tại São Paulo ngày 10 tháng 6 năm 2008 .

Bày tỏ quan điểm của mình về hôn nhân, Kaká tự hào rằng mình vẫn còn là trai tân cho tới ngày cưới; trả lời phỏng vấn tờ Vanity Fair, Kaká hãnh diện cho biết: “Tôi và Caroline quyết định giữ cho nhau đến ngày đám cưới. Kinh Thánh dạy rằng đó chính mới là tình yêu đích thực. Sự thật là chúng tôi đã có đêm tân hôn thực sự có ý nghĩa”.

Kaká đã tuyên thệ để trở thành công dân Italia ngày 12 tháng 2 năm 2007. Anh chủ yếu chỉ nhận quảng cáo cho Adidas, và cũng có một hợp đồng làm người mẫu với Armani, nhưng hợp đồng này khiến anh không thể xuất hiện cùng với các đồng đội tại Milan trong bộ ảnh được Dolce & Gabbana xuất bản đầu năm 2007.
Tên thân mật

Tên hiệu của anh được phát âm theo kiểu nhấn ở âm tiết thứ hai. Đây là kiểu gọi tên thân mật thông thường cho "Ricardo" tại Brasil. Tuy nhiên, trong trường hợp của Kaká, nó do người em Rodrigo, thường được gọi là Digão, đặt ra, gọi anh là "Caca" vì không thể phát âm được chữ "Ricardo" khi họ còn trẻ; và cuối cùng nó trở thành Kaká. Anh thỉnh thoảng cũng được truyền thông Châu Âu gọi là "Ricky Kaká".
Thống kê sự nghiệp
Câu lạc bộ

Cập nhật cho đến ngày 31 tháng 5 năm 2009.
Câu lạc bộ Mùa Nội địa
Giải Nội địa
Cúp Lục địa
Trận1 Khác
giải đấu2 Tổng
Tham gia Bàn thắng Tham gia Bàn thắng Tham gia Bàn thắng Tham gia Bàn thắng Tham gia Bàn thắng
São Paulo FC 2001 27 12 1 2 5 0 - - 33 14
2002 22 9 - - - - - - 22 9
2003 10 2 10 5 - - - - 20 7
Tổng 59 23 11 7 5 0 - - 75 30
A.C. Milan 2003-04 30 10 4 0 10 4 1 0 45 14
2004-05 36 7 1 0 13 2 1 0 51 9
2005-06 35 14 2 0 12 5 - - 47 19
2006-07 31 8 2 0 15 10 - - 48 18
2007-08 30 15 - - 9 3 2 1 41 19
2008-09 31 16 1 0 4 0 - - 36 16
Tổng 193 70 10 0 63 24 4 1 270 95
Real Madrid 2009-10 - - - - - - - - - -
Tổng - - - - - - - - - -
Tổng sự nghiệp 252 93 21 7 68 24 4 1 345 125

1Các trận Lục địa gồm Copa Libertadores, UEFA Champions League và Siêu Cúp Châu Âu
2Các giải khác gồm Siêu cúp Italia, Cúp Liên lục địa và Giải vô địch Câu lạc bộ thế giới của FIFA
Bàn thắng
#Bàn thắng Ngày Sân Đối thủ Tỷ số Kết quả Giải
1 7 tháng 3, 2002 Cuiabá, Brazil Flag of Iceland.svg Iceland 6–1 Thắng Giao hữu
2 19 tháng 7, 2003 Orange Bowl, USA Flag of Colombia.svg Colombia 2–0 Thắng CONCACAF Gold Cup
1 23 tháng 7, 2003 Orange Bowl, USA Flag of the United States.svg Hoa Kỳ 2–1 Thắng CONCACAF Gold Cup
1 7 tháng 9, 2003 Barranquilla, Colombia Flag of Colombia.svg Colombia 1–2 Thắng FIFA World Cup Qualification 2006
1 11 tháng 10, 2003 Curitiba, Brazil Uruguay 3–3 Hoà FIFA World Cup Qualification 2006
1 28 tháng 4, 2004 Budapest, Hungary Flag of Hungary.svg Hungary 1–4 Thắng Giao hữu
2 10 tháng 10, 2004 Maracaibo, Venezuela Flag of Venezuela.svg Venezuela 2–5 Thắng FIFA World Cup Qualification 2006
1 27 tháng 3, 2005 Goiânia, Brazil Flag of Peru.svg Peru 1–0 Thắng FIFA World Cup Qualification 2006
1 29 tháng 6, 2005 Frankfurt, Đức Argentina 4–1 Thắng FIFA Confederations Cup 2005
1 10 tháng 11, 2005 Abu Dhabi, Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất UAE 0–8 Thắng Giao hữu
1 4 tháng 6, 2006 Geneva, Thuỵ Sĩ New Zealand 4–0 Thắng Giao hữu
1 13 tháng 6, 2006 Berlin, Đức Croatia 1–0 Thắng FIFA World Cup 2006
1 3 tháng 9, 2006 London, Anh Argentina 3–0 Thắng Giao hữu
1 10 tháng 10, 2006 Stockholm, Thuỵ Điển Ecuador 2–1 Thắng Giao hữu
1 15 tháng 11, 2006 Basel, Thuỵ Sĩ Thụy Sĩ 1–2 Thắng Giao hữu
1 24 tháng 3, 2007 Göteborg, Thuỵ Điển Chile 4–0 Thắng Giao hữu
1 12 tháng 9, 2007 Foxborough, USA México 3–1 Thắng Giao hữu
2 17 tháng 10, 2007 Rio de Janeiro, Brasil Ecuador 5–0 Thắng FIFA World Cup Qualification 2010
1 18 tháng 11, 2007 Lima, Peru Peru 1–1 Hoà FIFA World Cup Qualification 2010
Thành tích
Tại câu lạc bộ và đội tuyển quốc gia

* Copa de Juvenil: 2000
* Torneio Rio-São Paulo: 2001
* Supercampeonato Paulista: 2002
* Serie A: 2004
* Siêu cúp bóng đá Ý: 2004
* UEFA Champions League: 2006-07
* UEFA Super Cup: 2003, 2007
* FIFA Club World Cup: 2007
* FIFA World Cup: 2002
* FIFA Confederations Cup: 2005, 2009

Danh hiệu cá nhân

* Revista Placar Bola de Ouro: 2002
* Campeonato Brasileiro Bola de Prata (best player by position): 2002
* CONCACAF Gold Cup Best XI: 2003
* Cầu thủ nước ngoài trong năm của Serie A: 2004, 2007
* Serie A Footballer of the Year: 2004, 2007
* Tiền vệ xuất sắc nhất UEFA: 2005
* Đội hình UEFA trong năm: 2006, 2007
* Cầu thủ xuất sắc nhất thế giới lần thứ 11 của Hiệp hội các cầu thủ chuyên nghiệp quốc tế: 2006, 2007
* Những giải thưởng cá nhân cấp câu lạc bộ của UEFA: 2006-07
* Tiền đạo xuất sắc nhất năm: 2006-07
* Cầu thủ xuất sắc cấp câu lạc bộ của năm: 2007
* Cầu thủ xuất sắc nhất thế giới của Hiệp hội các cầu thủ chuyên nghiệp quốc tế: 2007
* Quả bóng vàng châu Âu: 2007
* Quả bóng vàng Giải vô địch bóng đá thế giới các câu lạc bộ: 2007
* Toyota Award: 2007
* Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFA: 2007
* Cầu thủ hay nhất năm của tạp chí World Soccer: 2007
* Onze d'Or: 2007
* World‘s best Playmaker: 2007
* IAAF Latin Sportsman of the Year: 2007

Á quân

* Copa dos Campeões: 2001
* Torneio Rio-São Paulo: 2002
* Campeonato Paulista: 2003
* CONCACAF Gold Cup: 2003
* Cup Liên lục địa: 2003
* Cúp các đội vô địch bóng đá quốc gia châu Âu: 2004-2005
* Serie A: 2004-05

_________________
Không Bao Giờ Là Thất Bại_Tất Cả Chỉ Là Thử Thách
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://manredcafe.forumotion.net
 
Kaká Ricardo Izecson dos Santos Leite
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Manredcafe :: Góc Thư giãn -Giải trí :: Thế giới Thể thao :: Bóng đá :: Ngôi sao sân cỏ-
Chuyển đến